Trong quá khứ, sáng tác văn học luôn bị xem là lĩnh vực do nam giới thống lĩnh. Mặc dù lịch sử dài lâu không thiếu hình bóng của các nữ nhà văn, nhưng phần lớn họ bị các quy tắc đạo đức Nho giáo thời đó hạn chế, không thể công khai xuất bản tác phẩm như các nhà văn nam, thậm chí không dám ký tên mình trong bài viết.
Mặc dù có những nữ tác giả nổi tiếng như Lý Thanh Chiếu ở thời Tống hay Ngô Tạo ở thời Thanh đã đạt được danh tiếng lớn với những tác phẩm xuất sắc, nhưng nhân loại thường coi văn học sáng tác của phụ nữ là "tác phẩm nửa tự truyện" – tức là độc giả tự động đưa tác giả vào cốt truyện, xem nội dung hư cấu là phản ánh cuộc sống hiện thực của họ. Thậm chí, một số người còn "đảo ngược" lịch sử các nữ nhà văn, chẳng hạn như học giả thời Thanh tập thể phủ nhận sự thật rằng Lý Thanh Chiếu từng tái hôn.
Lý Thanh Chiếu và Triệu Minh Thành – Tình yêu sâu đậm
Lý Thanh Chiếu (1084-1155) sinh ra trong một gia đình thư hương của Bắc Tống. Cha cô là Lý Cách Phi, một nhà văn nổi tiếng thời đó, có quan hệ mật thiết với Tô Thức. Mẹ cô là bà Vươngtênthịtộc, xuất thân từ nhà danh giá, cũng được biết là người viết văn giỏi. Khi mười tám tuổi, Lý Thanh Chiếu gả cho Triệu Minh Thành, một nhà sưu tập kim loại và cổ vật. Sau khi kết hôn, cô viết nhiều từ ca diễn đạt "người vợ trẻ chờ chồng trở về" hay "thiếu nữ lần đầu biết tình yêu, tim đập loạn xạ". Mặc dù những hình ảnh trong bài không chắc chắn là chính cô, nhưng có thể suy đoán rằng cô và Triệu Minh Thành có tình cảm sâu sắc với nhau.
Tuy nhiên, cuộc sống hạnh phúc này bị đảo lộn khi quân Nữ Chân xâm lược. Để trốn tránh, Lý Thanh Chiếu và Triệu Minh Thành di cư về phía nam, đến tỉnh Giang Ninh (nay là Nanjing). Không ngờ, năm sau khi đến đó, Triệu Minh Thành đã qua đời, để lại cô một mình đối diện với những bộ sưu tập kim loại và cổ vật mà cả hai đã tập hợp. Những vật này không chỉ tượng trưng cho những ngày tháng đẹp lành, mà còn chứa đựng nỗi nhớ nhung của Lý Thanh Chiếu dành cho người chồng quá cố. Tình cảm sâu sắc của hai người thành một chuyện tình bất hủ, khiến hậu nhân ghen tị.
Vài năm sau khi Triệu Minh Thành mất, Lý Thanh Chiếu lấy lại với một viên chức nhỏ tên là Trương Nhữ Châu. Sau chưa đầy một năm kết hôn, cô chủ động xin ly hôn. Theo luật Tống, phụ nữ kiện chồng thì dù đúng sai cũng phải ngồi tù hai năm. Vì vậy, tại phiên tòa, Lý Thanh Chiếu bị dán còng và cùm chân để đối chất với Trương Nhữ Châu. Một phụ nữ xuất thân từ nhà danh giá lại bị xích ngực tù, đây là một sự sỉ nhục vô cùng lớn với Lý Thanh Chiếu. Nhưng cô sẵn sàng mất danh dự để ly hôn. Sau ly hôn, cô vẫn được gọi là góa phụ của Triệu Minh Thành, và cõi đời vẫn ca ngợi tình yêu của cô với Triệu Minh Thành, nhưng hiếm khi ai nhắc đến vụ kiện tụng chồng của cô.
Vụ ly hôn ồn ào thời đó cho thấy Lý Thanh Chiếu không chỉ là "phụ nữ dịu dàng đằm thắm" mà nhân loại tưởng tượng. Cô là một phụ nữ dám yêu dám ghét, quyết đoán và hành động. Chúng ta thấy được một Lý Thanh Chiếu khác, xa rời ánh nhìn và kỳ vọng của công chúng.
Sáng tác trong tư gia
So với thời Tông, thời kỳ Minh-Thanh có nhiều phụ nữ tham gia sáng tác văn học hơn. Đặc biệt, các nữ nhà văn thời Thanh rất say mê viết tán từ – một thể loại văn học có thể được diễn tấu, kể chuyện. Nghe các nữ danh ca tấu tán từ là một hình thức giải trí của các phu nhân tầng trên thời Thanh. Khác với thơ từ, một bộ tán từ thường có hàng chục vạn chữ, mất mười năm thậm chí vài chục năm mới hoàn thành. Một trong những tác phẩm tán từ nổi tiếng nhất là "Tái Sinh Duyên" của Trần Cực Sinh (1751-?).
"Tái Sinh Duyên" lấy bối cảnh thời Nguyên. Nữ thị tổng của bậc đại học sinh Mạnh Lệ Quân ban đầu được hứa cho con trai Hoàng Phủ Thiếu Hoa, một tổng đốc Vân Nam. Tuy nhiên, quốc cậu Lưu Quân Bích cũng yêu Mạnh Lệ Quân, và hắn sở hữu gia đình Mạnh và Hoàng Phủ để lừa bịp. Mạnh Lệ Quân quyết tâm không chịu lấy Lưu Quân Bích, nên bèn sắp xếp để nữ tỳ Tô Phát Tuyết đại thế cô kết hôn, còn cô trang thành nam tử chạy trốn đến kinh thành để dự thi. Từ đó, cô bước lên sự nghiệp chính trị, cuối cùng trở thành thủ tướng. Tại triều đình toàn nam nhân, cô được nhận ra là nữ nhân nhiều lần, thậm chí bị chính cha ruột và hôn phu quế chất vấn trước mặt toàn triều, nhưng cô kiên quyết phủ nhận và ngược lại khiển trách họ. Cuối cùng, do uống rượu say, Mạnh Lệ Quân bị lộ danh tính, hoàng đế muốn làm cô thành phi tần, khiến cô rơi vào tình huống rắc rối...
"Tái Sinh Duyên" của Trần Cực Sinh kết thúc tại đây. Cô chỉ hoàn thành được mười bảy cuốn trước khi qua đời, ba cuốn cuối cùng được nữ nhà văn khác tên là Lương Đức Thừa viết tiếp. Thú vị là, Lương Đức Thừa cảm thấy cốt truyện của Trần Cực Sinh quá "tiền phương", nên cô đã viết một kết thúc phù hợp hơn với kỳ vọng xã hội. Trong phiên bản của Lương Đức Thừa, Mạnh Lệ Quân từ chối trở thành phi tần, hoàng đế tức giận định giết cô, nhưng sau sự khẩn cầu của Thái hậu và các văn thần, cô không chỉ giữ được mạng sống mà còn thành công kết hôn với Hoàng Phủ Thiếu Hoa, quay trở lại với thân phận nữ nhân.
Viết văn để gửi gắm tình cảm – Phụ nữ tài ba
Câu chuyện của Mạnh Lệ Quân rõ ràng không phải là bản tự truyện của tác giả, nhưng cách sắp xếp cốt truyện cho thấy các nữ nhà văn dùng tình huống "nữ nhân giả thành nam nhân và trở thành thủ tướng" để bộc lộ hoặc khám phá những hoài bão vĩ đại của phụ nữ, những điều mâu thuẫn với hiện thực.
Giống như hầu hết các nữ nhà văn khác, Trần Cực Sinh sinh ra trong gia đình thư hương. Cô là con gái cả, dưới cô là hai em gái tên là Trần Trường Sinh và Trần Tổ Sinh, ba chị em gái đều nổi tiếng vì tài năng văn chương. Ông ngoại của Trần Cực Sinh là Trần Triệu Luân, từng viết một bài "Luận về Phụ Nữ Tài Ba", cho rằng phụ nữ không phải "không tài mới là đức", mà việc phụ nữ đọc sách và viết chữ không chỉ có lợi cho tâm thần, mà còn giúp ích cho giáo dục gia đình. Trần Cực Sinh lớn lên trong một gia đình cởi mở như vậy, không ngạc nhiên khi cô viết những câu chuyện tiền phương. Nhà sử học Trần Dần Khắc suy đoán rằng Trần Cực Sinh kết hôn vào năm lúc hai mươi ba tuổi, chồng cô cũng là con em của gia đình thư hương. Theo lời kể của Trần Cực Sinh, cô và chồng có cuộc sống hôn nhân rất hạnh phúc, và mối quan hệ với gia đình chồng cũng rất hoà thuận. Tuy nhiên, sáu năm sau khi kết hôn, chồng cô vướng vào một vụ bê bối thi cử và bị giáng chức đến Tân Cương, điều này gây ra một cú sốc lớn cho Trần Cực Sinh. Ngày ngày cô thấp thỏm lo âu, mất hứng viết lách.
Nhiều năm sau, dưới thúc giục của bạn bè và người thân, Trần Cực Sinh lại cầm bút. Lúc này cô đã bước vào tuổi trung niên, tâm trạng không còn lạc quan như xưa, khối lượng sáng tác cũng giảm sút. Cô mất cả một năm mới hoàn thành cuốn thứ mười bảy, đó là cuốn cuối cùng cô viết trước khi qua đời. Trần Cực Sinh tiếp tục cầm bút không chỉ để đáp ứng sự mong chờ của độc giả (bạn bè và người thân), mà còn để dung nham nỗi lo lắng về chồng. Có lẽ không thể giống như Lý Thanh Chiếu, dùng kiện tụng để tự cứu mình, cô chỉ có thể qua nhân vật Mạnh Lệ Quân trong truyện để thay mình bước vào triều đình và cứu chồng bị oan.
Tiếc rằng, con gái duy nhất của Trần Cực Sinh qua đời vào năm cô viết cuốn thứ mười bảy, và chính Trần Cực Sinh cũng mắc phải căn bệnh nan y. Nhà sử học Quách Mạo Nhạo sau khi nghiên cứu cuộc đời cô, cho rằng cô rất có thể qua đời ở tuổi bốn mươi hoặc bốn mươi mốt, nhiều nhất không quá bốn mươi lăm. Còn liệu cô có được đoàn tụ với chồng trước khi qua đời hay không, đó là một bí ẩn chưa được giải đáp.
Sau khi Mạnh Lệ Quân qua đời, "Tái Sinh Duyên" vẫn được lưu hành rộng rãi ở vùng Giang Nam. Câu chuyện của Mạnh Lệ Quân nhiều lần được dàn dựng trên sân khấu, thậm chí được chuyển thể thành phim và truyền hình. Tuy nhiên, Trần Cực Sinh không bao giờ ký tên mình là tác giả của "Tái Sinh Duyên", thậm chí nữ nhà văn Lương Đức Thừa cũng chỉ gọi cô là "tài nữ rảnh rỗi của hậu cung" (không biết chính xác danh tính tác giả). Cho đến năm 1924, khi bộ sách "Tiểu Thuyết Thẩm Định Văn Bản Tiếp Tục" được xuất bản, lời tựa dẫn bài "Tây Linh Hậu Cung Ngâm Thơ" do dòng dõi Trần Cực Sinh viết, đề cập đến lịch sử sáng tác "Tái Sinh Duyên", thì danh tính tác giả mới được xác nhận.
Thế giới sáng tác của các nữ nhà văn
Dù là Lý Thanh Chiếu hay Trần Cực Sinh, sáng tác văn học cung cấp cho phụ nữ một không gian để tạm thời thoát khỏi hiện thực. Trong văn học, họ có thể tự do khỏi sự ràng buộc của đạo đức Nho giáo hay ánh nhìn thế tục, thậm chí có thể vượt qua giới hạn của giới tính, thoả sức sáng tạo ra một thế giới lý tưởng của riêng họ.
Họ có lẽ may mắn được thế giới ghi nhớ, hoặc cũng có thể như phần lớn các nữ nhà văn "vô danh" khác, bị chôn vùi trong lịch sử dài. Tuy nhiên, những tác phẩm và cuộc đời của họ cho chúng ta thấy sức mạnh của phụ nữ thời đó, sự dũng cảm của họ khi đối diện với khó khăn, và khả năng suy tư của họ.
Công Khai Lương Văn Giáo Quỹ Xuân 2025 Biểu Diễn Công Khai
"Ánh Sáng Rực Rỡ – Lý Thanh Chiếu và Hai Người Chồng" – Người Phụ Nữ Đầu Tiên Trong Lịch Sử Thắng Kiện Ly Hôn
📍 Ngày 8/6 (Chủ Nhật) 14:30 Sân Khấu Thành Phố, Trung Tâm Xúc Tiến Khí Tượng Văn Hóa Thành Phố Đài Bắc
"Hùng Bích Duyên" – Võ Kịch Phái Hải, Tình Yêu, Hiệp Nghĩa, Mạo Hiểm Rực Rỡ
📍 Ngày 7/6 (Thứ Sáu) 14:30 Sân Khấu Thành Phố, Trung Tâm Xúc Tiến Khí Tượng Văn Hóa Thành Phố Đài Bắc
Lần thứ ba tăng diễn này do Lý Bảo Xuân đạo diễn và soạn kịch, đồng thời một người thủ vai hai nhân vật – vào vai hai chồng của Lý Thanh Chiếu với sự tương phản cực đoan, độ khó cao. Kỹ năng diễn xuất linh hoạt và tự nhiên; vai nữ chính do Khổng Ngọc Tài thủ vai, diễn xuất chính xác kết hợp với cung điệu kinh Côn, khiến người xem cảm nhận được "tôi tự chủ thân phận" của một phụ nữ tài ba.
Mua vé tại đây:
Tham gia Hội Bạn của Quỹ Văn Hóa và Giáo Dục Công Khai Lương, hưởng chiết khấu 20% vé thành viên
Tài liệu tham khảo
Mạnh Kỳ Cựu, "Đông Kinh Giấc Mộng Hoa Lục", Bắc Kinh: Nhà Xuất Bản Văn Hóa Nghệ Thuật, 1998.
Lý Thanh Chiếu, "Tập Lý Thanh Chiếu Có Chú Giải", Đài Bắc: Nhà Xuất Bản Lý Nhân, 1982.
Từ Tú Phương, "Đời Sống Hôn Nhân của Phụ Nữ Giai Cấp Địa Chủ Thời Tông", Tân Bắc: Nhà Xuất Bản Hoa Mộc Lan, 2011.
Y Bồi Hà, "Trong Hậu Cung", Nam Kinh: Nhà Xuất Bản Nhân Dân Tỉnh Giang Tô, 2004.



