Nếu tưởng tượng quá trình Đài Loan tiến tới xã hội hiện đại giống như những gợn sóng trên mặt nước, thì lưu vực Đục Thủy Ngòi có lẽ chính là nơi viên đá rơi xuống, gây nên những gợn sóng liên tiếp.

Trong thung lũng miền Trung Đài Loan được bao quanh bởi rừng núi, nước mưa chảy theo dãy Trung Ương tụ tập thành suối, chảy xiết xuống. Vũ Giới, Nhật Nguyệt , Đại Quán, Che Tham... những tên gọi này dường như độc lập với thế giới, nhưng lại được liên kết chặt chẽ bởi những nhà máy điện, công trình đường sắt và các căn cứ lâm nghiệp, vẽ nên một bản đồ năng lượng của sự hiện đại hóa Đài Loan.

Từ bản thiết kế trên giấy đến công trình điện lớp quy mô xuyên qua dãy núi

Ở miền Trung Đài Loan, nước mưa chảy theo các dãy núi cao chót vót, tụ thành thác nước xiết, tuôn chảy theo dãy Trung Ương lắng đọng tích tụ, nuôi dưỡng thung lũng, đồng thời lưu giữ những nguồn năng lượng thủy điện vô tận. Ở thượng nguồn Đục Thủy Ngòi, do có độ cao chênh lệch lớn kết hợp với lưu lượng nước dồi dào, nơi đây luôn là nguồn nước quan trọng của cư dân ven bờ.

Ngay từ đầu thời kỳ quản lý Nhật, tổng đốc Gotō Shinpei đã đưa ra khẩu hiệu "Điện là nền tảng của sức mạnh quốc gia" và thúc đẩy xây dựng nhà máy thủy điện đầu tiên của Đài Loan. Đến thập niên 1910, tổng đốc phủ tiếp tục suy tính cách thức sử dụng điện để dẫn dắt hiện đại hóa địa bàn thuộc địa, và Nhật Nguyệt với nguồn nước dồi dào đã trở thành trọng điểm phát triển.

Năm 1918, "Đề cương công trình thủy điện Nhật Nguyệt " được công bố, đánh dấu khởi động một dự án thế kỷ xuyên suốt địa lý, kỹ thuật và chính trị. Ban đầu, Nhật Nguyệt là một hồ tự nhiên nước nông, được thiết kế thành "hồ chứa ngoài luồng", cần phải xây đập ở thượng nguồn Đục Thủy Ngòi để ngăn nước rồi dẫn vào. Công ty Điện lực Đài Loan (tiền thân của Công ty Điện lực Đài Loan ngày nay, sau gọi tắt là Đài Điện) kế hoạch xây dựng Đập Vũ Giới và đào một đường hầm dẫn nước dài 15 kilomét xuyên qua Đại Sơn Thủy Xã, để dẫn nước từ phía kia núi vào Nhật Nguyệt phục vụ cho phát điện thủy lực.

Công trình biến đổi địa hình tự nhiên và cấu trúc năng lượng của Đài Loan này, nhưng liên tục gặp khó khăn do thiếu vốn và thảm họa thiên nhiên. Kinh phí dự kiến 48 triệu đồng Nhật tăng vọt lên 80 triệu, cộng thêm trận động đất Kanto năm 1923 và cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 1929 tấn công liên tiếp, dự án bị tạm dừng nhiều lần, gây ra những nghi ngờ từ xã hội.

Để cứu dự án, Công ty Điện lực Đài Loan và tổng đốc phủ Đài Loan tích cực vận động Quốc hội Nhật Bản, cuối cùng đạt được sự đồng ý phát hành trái phiếu tại Mỹ vào tháng 6 năm 1931 để huy động vốn, rồi khôi phục thi công năm 1931 và hoàn thành năm 1934. Dự án kéo dài 15 năm này không chỉ là một bài kiểm tra kỹ thuật, mà còn là một trò chơi giữa tài nguyên quốc gia và tầm nhìn hiện đại hóa.

Đây là đập Thủy Xã của nhà máy điện Nhật Nguyệt , nằm ở gần Thủy Đuôi Ngòi gần bộ lạc Thủy Xã, và gần Đập Đầu Xã, khiến Nhật Nguyệt - ban đầu là một hồ nước tự nhiên ở vùng núi cao - nâng mực nước lên 18,18 mét, sử dụng Nhật Nguyệt làm hồ chứa nước, rồi dẫn nước xuống Mộc Đàm ở Nước Lý Ngòi để tạo độ chênh lệch phục vụ phát điện.

Sự kết nối vàng giữa điện và đường sắt

Năm 1934, Nhà máy Phát điện số 1 Nhật Nguyệt (nay là Nhà máy Đại Quán, Khu Đại Quán 1) chính thức hoàn thành, trở thành nhà máy thủy điện lớn nhất châu Á lúc bấy giờ, cung cấp 70% điện cho toàn Đài Loan. Nhà máy phát điện từ dãy Trung Ương này với dòng điện chạy xuyên suốt Nam Bắc, cũng hỗ trợ sự phát triển của các ngành công nghiệp nhẹ như chế biến mộc, đường và cá muối, trở thành động lực quan trọng cho hiện đại hóa Đài Loan.

Để phục vụ thi công, Đài Điện xây dựng đường sắt điện hóa đầu tiên của toàn Đài - Đường sắt Điện Nhật Nguyệt , vận chuyển vật liệu và nhân viên công trình, trở thành lần đầu tiên kỹ thuật điện và đường sắt được tích hợp. Khi nhà máy phát điện hoàn thành, đường sắt hoàn thành nhiệm vụ và từng bước rút lui, nhưng những di tích còn lại vẫn chứng thực sự tiến bộ kỹ thuật và những thử thách lúc bấy giờ.

Sự ra đời của nhà máy điện cũng sâu sắc thay đổi bộ mặt địa phương; Đài Điện không chỉ xây dựng ký túc xá, phòng khám, trường học, nhà tắm công cộng cho hàng ngàn công nhân và gia đình họ, mà còn khiến Nước Lý và Che Tham dần dần hình thành những khu tập trung công nghiệp đầy đủ chức năng sinh hoạt.

Năm 1937, Nhà máy Phát điện số 2 Nhật Nguyệt (nay là Nhà máy Minh Đàm, Khu Cụi Công) hoàn thành thi công ở Nước Lý, và tổng đốc phủ Nhật Bản cũng 설đường sắt Tập Tập từ Nhị Thủy đến Che Tham, mở rộng mạng lưới giao thông, khiến thị trấn nhỏ trong núi này bước vào hiện đại hóa.

Tuy nhiên, tất cả không thể thoát khỏi lửa chiến tranh. Từ năm 1944, Quân Đông Minh đánh bom các cơ sở năng lượng của Đài Loan, hai nhà máy điện bị tấn công trực diện. Nhân viên vừa đốt cỏ tranh để che mắt máy bay địch vừa bảo vệ phòng máy, nhưng vẫn không thể chống lại các quả bom, thiết bị phát điện bị hư hại nặng nề, nhà máy điện tê liệt.

Sau chiến tranh, may mắn thay, các kỹ sư điện lúc bấy giờ đã giữ vững vị trí của mình. Họ trở thành những người đầu tiên quay lại khu vực thiên tai, sửa chữa gấp thiết bị, xây dựng lại hệ thống truyền tải điện, giúp Đài Loan tái hiện ánh sáng sau chiến tranh. Tháng 10 năm 1946, Tổng thống Tưởng Giới Thạch cùng phu nhân Tưởng Tông Mỹ Linh thị sát tình trạng phục hồi của nhà máy điện, lần lượt đặt tên Nhà máy Phát điện số 1 và số 2 Nhật Nguyệt là "Đại Quán" và "Cụi Công", tượng trưng cho tinh thần kiên trì và bền bỉ của tái thiết lập sau chiến tranh. Ngày nay, hai nhà máy điện vẫn vận hành ổn định, là trụ cột quan trọng của hệ thống điện của Đài Loan.

Đường ray mang theo mùi gỗ: Thịnh vượng lâm nghiệp Che Tham

Theo sự triển khai công trình thủy điện Nhật Nguyệt , Che Tham dần dần nổi bật lên như một nút giao thông quan trọng cho phát điện và xây dựng đường sắt.

Ban đầu, Che Tham do địa hình bằng phẳng, giao thông thuận lợi, trở thành điểm trung chuyển của các tài nguyên như đường sắt, mộc, và gỗ. Năm 1919, Công ty Điện lực Đài Loan để vận chuyển vật liệu xây dựng và thiết bị cần thiết cho công trình phát điện, bắt tay đường sắt từ Nhị Thủy tại đến Che Tham ngoài khu, ban đầu chủ yếu chở hàng hóa, ngày 13 tháng 1 năm 1922 bổ sung chức năng chở khách, năm sau lại mở rộng quỹ đạo từ Che Tham ngoài khu đến Mộc Đàm để vận chuyển các máy phát điện và máy biến áp nặng.

Tuy nhiên, do dự án thiếu vốn, Công ty Điện lực Đài Loan cuối cùng bán đoạn đường sắt từ Nhị Thủy đến Che Tham ngoài khu cho Bộ Đường sắt Tổng đốc phủ, trở thành Đường sắt Tập Tập ngày nay. Sau khi công trình phát điện tạm dừng, Đường sắt Tập Tập chuyển sang dùng cho giao thông thông thường, không chỉ là tuyến đường sắt duy nhất ở Nam Đầu, mà còn trở thành động mạch giao thông quan trọng đối ngoại của địa phương, mang đến cho Che Tham lượng khổng lồ khách hàng và hàng hóa, cũng dần dần đặt con đường để phát triển lâm nghiệp sau này, đóng góp sâu sắc cho sự phát triển vùng nội sơn miền Trung.

Nhà máy đường Puli để vận chuyển đường sản xuất ra ngoài, năm 1916 sử dụng "xe đài" chở đường đến ga Che Tham; năm 1919, công trình thủy điện Nhật Nguyệt khởi công, Đài Điện để vận chuyển thiết bị và vật liệu lớn, đặc biệt mở rộng đường sắt xe điểm bảy từ Che Tham ngoài khu qua Tập Tập đến Nhị Thủy (tức Tuyến Che Tham ngoài khu), cũng như tuyến từ Che Tham đến Nhà máy Điện Mộc Đàm ngoài khu, hai tuyến lần lượt hoàn thành năm 1921 và 1923. Kỹ sư, công nhân cộng thêm vận chuyển khách hàng và hàng hóa bằng xe nhẹ, mang lại cho Che Tham những cảnh tượng sôi động chưa từng có.

Từ cuối thập niên 1950, khi khai thác lâm nghiệp bước vào thời kỳ đỉnh cao, các công ty gỗ được cấp quyền khai thác rộng lớn vùng núi Nam Đầu chọn lựa Che Tham với địa hình bằng phẳng và đường sắt thuận lợi để xây dựng nhà máy. Nhà máy cưa gỗ mới xây dựng và bể chứa gỗ nhanh chóng thúc đẩy sự phát triển địa phương, mang lại làn sóng thịnh vượng thứ hai cho khu tập trung.

Lúc bấy giờ, dân số cư trú ở Che Tham từng đạt tới hàng ngàn người, trong đó hơn một nửa làm việc tại các nhà máy gỗ, từ biệt danh "Đài Bắc nhỏ" có thể thấy rõ sự h của lúc bấy giờ. Thông qua tuyến hỗ trợ Tập Tập vận chuyển gỗ nguyên liệu và sản phẩm xử lý, Che Tham trở thành nút giao thông quan trọng của ngành công nghiệp gỗ toàn Đài Loan, sản phẩm thậm chí còn xuất khẩu ngoài nước, thế lực ngành gỗ như mặt trời buổi trưa.

Tuy nhiên, từ thập niên 1980, chính sách lâm nghiệp Đài Loan bắt đầu đổi hướng, năng lực sản xuất ngành gỗ bắt đầu sụt giảm, nền kinh tế địa phương cũng bắt đầu suy thoái. Mặc dù công ty gỗ địa phương đã cố gắng nhập khẩu gỗ ngoài và chuyển đổi xử lý, nhưng cuối cùng cũng không chống lại được sự thay đổi thị trường và cấu trúc, từng bước kết thúc hoạt động. Sau khi nhà máy tạm dừng, khu tập trung từng sôi động dần dần im lặng, chỉ những công trình còn lại như xưởng, ký túc xá và bể chứa gỗ vẫn tiếp tục kể lại những câu chuyện về sự thăng trầm kinh tế này và những thay đổi của thời đại.

Từ năm 1900, tổng đốc phủ Nhật Bản thúc đẩy "trồng rừng cây dó", trong đó Tập Trang (bao gồm Nước Lý) có diện tích trồng dó đạt 8.245 kilomét vuông, với hơn 600 lò nồi dó liên tục, khói bốc lên từ bếp xung quanh, khách thương mại tập trung đông đúc, vì vậy có tên gọi "Đài Bắc nhỏ".

Tiếng vọng của một nhà máy điện: từ đường truyền tải chính đến thị trấn du lịch

Phát điện thủy lực không chỉ cung cấp điện ổn định cho Đài Loan, mà còn sâu sắc ảnh hưởng đến cấu trúc công nghiệp và lối sống của vùng miền Trung. Việc đường sắt từ Nhị Thủy đến Che Tham thúc đẩy vùng Nước Lý tiến tới mạng lưới giao thông hiện đại hóa; lượng lớn nhân lực cần thiết cho công trình không chỉ thúc đẩy hình thành các khu cư dân xã, mà còn khiến những người nhập cư, lao động và cư dân địa phương kết hợp với nhau tạo nên những bộ mặt xã hội mới.

Năm 1912, Sở Chính quyền Nam Đầu thiết lập "Khu chợ tiêu dùng Tập Trang" ở phố Tập Trang, năm 1916 chuối Đài Loan xuất khẩu, làm cho dân số Tập Trang ngày càng tăng, khách thương mại qua lại thường xuyên. Khu chợ tiêu dùng Tập Trang năm 1928 là công trình xây dựng bằng gỗ lợp ngói, xung quanh tập trung nhiều quán ăn, cửa hàng rau và nhà trọ.

Sự phát triển lâm nghiệp và công trình điện cũng thúc đẩy sự ra đời của các hoạt động kinh tế địa phương, Che Tham và Nước Lý trở thành điểm gặp gỡ giữa tài nguyên núi rừng và công nghiệp xuất khẩu. Khi thời đại khai thác gỗ kết thúc, sau trận động đất năm 1999 (Động đất 9.21), cư dân địa phương và chính phủ hợp tác, tích cực thúc đẩy Che Tham chuyển đổi thành thị trấn du lịch với trục chính là văn hóa lâm nghiệp và đường sắt. Địa điểm cũ của công ty gỗ được kích hoạt thành Nhà trưng bày lâm nghiệp và không gian DIY chế biến gỗ, bể chứa gỗ cũng được tu sửa thành hồ cảnh quan sinh thái, trở thành điểm tham quan cho khách du lịch tìm hiểu lịch sử và tự nhiên.

Khi xây dựng lại Nhà trưng bày Lâm nghiệp Che Tham, sử dụng khái niệm thiết kế "xếp chồng cái cũ với cái mới", bảo tồn khung nhà cũ bằng cách che phủ, tu sửa khung nhà cũ thành những bộ phận trưng bày trong Nhà sáng tạo lâm nghiệp, và xây thêm khung gỗ mới trên khung gỗ xưởng cũ, tạo ra sự lôi cuốn của khung cấu trúc gỗ cũ và mới xếp chồng trong cùng một không gian.

Che Tham ngày nay không còn là một căn cứ khai thác gỗ với xe chạy lại lui tới, bụi gỗ bay tung tóe, mà là một nút giao thông văn hóa kết hợp điện, đường sắt, lâm nghiệp và ký ức nhân văn. Xung quanh Nhật Nguyệt , hành trình từ xây dựng năng lượng, trải qua thịnh vượng công nghiệp cho đến chuyển đổi thành du lịch văn hóa này, cũng cho chúng tôi thấy: một nhà máy điện đã kéo dài như thế nào một khu vực qua những thay đổi trăm năm và những câu chuyện chưa hoàn tất.

Tài liệu tham khảo

Tiền ghi chú cô (Simple Youzheng), "Khởi đầu hệ thống thủy điện quy mô lớn hiện đại Đài Loan - Đục Thủy Ngòi (Nhật Nguyệt ) lộ trình văn hóa điện (phần trên)", "Bộ sưu tập di vật điện",

Vương Bội Vũ, "Văn hóa Đài Điện: Bay qua thời đại rực rỡ, nhìn ra tái sinh và tự hào của Đại Quán", "Tạp chí hàng tháng Đài Điện" tháng 5 năm 2022,

"Nhà máy Minh Đàm - Hướng dẫn du lịch di tích phát triển và sinh thái - Ngày tháng chiếu lớn vịnh - Nước Lý Đào Hoa Nguyên",

"Phát điện rút từ Nhật Nguyệt thành mô hình - Lịch sử rực rỡ - Hoa lệ tiếp nối", "Tạp chí hàng tháng Đài Điện" tháng 6 năm 2020,

"Di tích Đền thờ Thủy Lý Hố",

"Nhà máy Minh Đàm", "Khu danh lam thắng cảnh quốc gia Nhật Nguyệt ",

Liêu Phẩm Nghiên, "Lực là nền tảng của sức mạnh quốc gia! Thúc đẩy hiện đại hóa công nghiệp Đài Loan, nhà máy điện Nhật Nguyệt lớn nhất châu Á thời kỳ Nhật trị",

"Che Tham xoa nay đắm chìm trong kỷ niệm thời đại gỗ vĩ đại",

Trần Thuận Thắng, "Chuyên mục: Nhìn thấy sự phát triển lâm nghiệp, phát điện, đường sắt và du lịch của Đài Loan ở Che Tham",

"Nam Đầu Che Tham - Bao chứa phong thái lâm nghiệp, đường sắt, điện và nhân văn",

"Nhà trưng bày lâm nghiệp Che Tham",

"Ga Che Tham",

Lưu Chi Vỹ, "Kết nối, khách hàng, vận chuyển - Ảnh hưởng của công trình thủy điện Nhật Nguyệt đối với vùng Nước Lý (1919-1945)",

"Tuyến Tập Tập",

Bài viết hợp tác với Đảo Nội Đi Bộ

Không giới hạn Đục Thủy Ngòi - Đi tuần khám phá nguồn sét - Thủy điện Đục Thủy Ngòi × Văn hóa điện, những câu chuyện du lịch bộ hành học tập

Những câu chuyện đốt cảm xúc nhất thường nằm ở hiện trường với núi, nước, ánh sáng và tình cảm nhân gian. Đọc chỉ là bắt đầu, chúng tôi mời bạn thực tế đi bộ một lịch, tận mắt chứng kiến những núi nước và nhân vật phía sau bài viết, nghe tiếng nói của đất đai, cảm nhận độ ấm của văn hóa địa phương. Hãy đăng ký ngay, cùng đi bộ học tập địa phương!

Để biết thông tin đăng ký vận hành, vui lòng xem dưới đây:

Trang web chính thức:

Hai ngày Nhật Nguyệt :

Hai ngày Ao Vạn Sinh: